Cho trẻ ăn trứng theo độ tuổi

Tỉ lệ hấp thu chất đạm của trứng là 100%, tương đương với đạm trong sữa nếu biết cách chế biến đúng.

Lòng đỏ trứng còn cung cấp nhiều chất béo, các vitamin và khoáng chất rất cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Nhưng ăn trứng thế nào thì không phải ai cũng biết.

  • 1

    Bao nhiêu là đủ?

    Giá trị dinh dưỡng của 100g trứng Trứng gà Trứng vịt
    Năng lượng (Kcalo)
    Protein (g)
    Lipit(g)
    Gluxit(g)
    Canxi ( mg)
    Săt(mg)
    Kẽm(mg)
    Vitamin A ( mcg)
    Vitamin D ( mcg)
    Cholesterol (mg)
    166 14,8 11,6 0,5 55 2,7 0,9 700 0,88 470 184 13,0 14,2 1,0 71 3,2 0,8 360 – 864

    Trước hết chúng ta cần biết giá trị dinh dưỡng của trứng như thế nào? Thông thường, 1 quả trứng gà ta nặng khoảng 40g (cả vỏ), 1 quả trứng vịt : 70g (cả vỏ). Nếu bỏ vỏ thì 100g trứng gà tương đương 3 quả, còn 100g trứng vịt tương đương 1,5 quả. Có thể so sánh bảng thành phần dinh dưỡng dưới đây giữa trứng gà và trứng vịt:
    Như vậy giá trị dinh dưỡng của trứng gà và vịt không khác nhau nhiều lắm, nhưng thành phần các vi chất dinh dưỡng thì trứng gà tốt hơn trứng vịt, hàm lượng kẽm, vtamin A của trứng gà cao hơn trứng vịt. Trong trứng gà còn có cả vitamin D, một loại vitatmin có rẩt ít trong thực phẩm, hàm lượng chất đạm của trứng gà cũng cao hơn trứng vịt, chất béo trong trứng gà thấp hơn nên ít gây đầy bụng khó tiêu, như vậy nên cho trẻ ăn trứng gà thì tốt hơn.
    Tuy trứng là thực phẩm rất tốt nhưng cũng không nên cho ăn quá nhiều, vì hàm lượng chất béo trong trứng cao làm bé dễ bị đầy bụng, khó tiêu. Tuỳ theo tháng tuổi mà cho ăn số lượng khác nhau: Trẻ 6 -7 tháng tuổi chỉ nên ăn ½ lòng trứng gà/bữa, ăn 2 – 3 lần/tuần; Trẻ 8 – 12 tháng tuổi ăn 1 lòng đỏ/bữa ăn 3 – 4 bữa trứng 1 tuần; Trẻ 1 – 2 tuổi nên ăn 3 – 4 quả trứng/tuần, ăn cả lòng trắng; Trẻ từ 2 tuổi trở lên nếu bé thích trứng có thể cho ăn 1 quả/ngày.

  • 2 Cách chế biến trứng tốt nhất
      Không nên ăn trứng gà sống hay hòa tan trứng sống trong cháo nóng, canh nóng mà nên luộc hoặc nấu chín để phòng nhiễm khuẩn… Đường sinh dục của gà có rất nhiều vi khuẩn nên cả trong và ngoài trứng gà đều có thể nhiễm khuẩn, đặc biệt là salmonella – một yếu tố gây ngộ độc thức ăn. Ngoài ra, trong lòng trắng trứng sống còn có một chất chống lại biotin (vitamin H), cản trở hấp thu dưỡng chất này. Vitamin H là yếu tố không thể thiếu được trong quá trình sử dụng protein và đường – bột, cần thiết cho sự phát triển bình thường của cơ thể. Vì vậy, ăn trứng sống hoặc chín tái đều có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe.
    Trứng gà rán hoặc ốp mà dùng lửa to thì dễ khiến bên ngoài cháy mà bên trong chưa chín. Lúc đó, lòng trắng trứng bị cháy sẽ khó hấp thu, lại tiêu hủy các vitamin tan trong nước như vitamin B1, B2, còn lòng đỏ chưa được tiệt khuẩn nếu có. Vì vậy, khi rán hoặc ốp trứng, nên để lửa nhỏ, thời gian lâu một chút cho lòng đỏ vừa chín là tốt.
    Nếu ăn trứng gà sống, tỷ lệ hấp thu và tiêu hóa  chỉ được  40%, ở trứng luộc là 100%, trứng rán chín tới 98,5%, trứng rán già 81%, trứng ốp 85%, trứng chưng 87,5. Do đó  tốt nhất là nên ăn trứng luộc chín tới, không những bảo đảm được chất dinh dưỡng như protein, lipid, khoáng chất… mà các vitamin cũng bị mất đi ít.   Cho trẻ ăn trứng theo độ tuổi - 1
  • 3

     Lưu ý khi luộc trứng gà

    Không ít người khi luộc trứng thường cho rằng đem vào đun sôi chín là được, nên nhiều khi trứng bị nứt hoặc vỡ làm mất chất dinh dưỡng. Cách luộc đúng là: Cho trứng cùng với nước lã vào nồi rồi đun sôi dần. Khi nước sôi, vặn nhỏ lửa đun khoảng 2 phút rồi tắt bếp ngâm trứng khoảng 5 phút. Như vậy, trứng vừa chín tới, lòng đỏ không bị chín kỹ quá, dễ hấp thu. Lúc luộc trứng, có thể cho thêm một ít muối để giữ cho trứng không bị vỡ.
    Trứng vừa lấy ở tủ lạnh ra không nên luộc ngay, cũng không nên ngâm trong nước nóng hay luộc bằng lửa quá to vì dễ gây vỡ trứng hoặc không chín lòng đỏ.

Kêu gọi hành động hình ảnh biểu ngữ
x

Lost Password